Vai trò của ngành sản xuất gạch nung
Cùng với các ngành sản xuất vật liệu xây dựng khác, ngành sản xuất gạch đang phát triển nhanh chóng nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng ngày càng cao của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa của đất nước và xây dựng dân dụng.
Các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp cổ phần hóa đóng vai trò chủ đạo trong việc phát triển công nghệ sản xuất, nhưng sản lượng hàng năm chỉ chiếm gần 35%, trong khi các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các hộ gia đình sản xuất hơn 65% sản lượng gạch toàn ngành [Báo cáo ngành gạch, AIT, 2003].
Hiện, cả nước có hơn 300 nhà máy sản xuất gạch sử dụng công nghệ nung bằng lò tuynel, gồm gần 100 doanh nghiệp nhà nước và trên 200 doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Ngoài ra còn có hàng ngàn cơ sở sản xuất bằng lò thủ công truyền thống và gần 250 doanh nghiệp sản xuất bằng lò liên tục kiểu đứng [Báo cáo ngành gạch, AIT, 2003].
Sản lượng gạch nung toàn ngành [Niên giám Thống kê, 2005]:
- Năm 2000: 9.087 triệu viên, trong đó doanh nghiệp ngoài quốc doanh sản xuất 6.706 triệu viên;
- Năm 2005: 16.728 triệu viên, trong đó doanh nghiệp ngoài quốc doanh sản xuất 13.906 triệu viên.
Các doanh nghiệp sản xuất gạch phân bố rộng trên cả nước, tập trung ở các vùng nông thôn, dọc theo các bãi sông, đầm, hồ, nơi có nguồn đất sét phong phú. Tại mỗi tỉnh, thành phố trong cả nước đều có các doanh nghiệp sản xuất gạch bằng lò tuynel, lò thủ công truyền thống, lò liên tục kiểu đứng. Các doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu, lao động địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Mục tiêu:
Lựa chọn công nghệ, quy mô sản xuất hợp lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn nguyên liệu, lao động phát triển sản xuất gạch nung nhằm đáp ứng đủ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Phấn đấu sản lượng bình quân 5 năm tới đạt 20 tỷ viên, đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm và vệ sinh môi trường.
Quan điểm:
a) Về công nghệ
Tiếp thu công nghệ tiên tiến của thế giới, kết hợp với công nghệ, thiết bị sản xuất trong nước để sớm có nền công nghệ sản xuất hiện đại, cơ giới hoá, tự động hoá ở mức cao; đảm bảo tiêu chuẩn môi trường của Việt Nam và Quốc tế; sản phẩm đạt tiêu chuẩn TCVN và ISO, có khả năng cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới.
b) Về quy mô
Lựa chọn quy mô sản xuất phù hợp, có sự kết hợp giữa quy mô lớn, vừa và nhỏ; phát huy tối đa năng lực của các cơ sở sản xuất hiện có. Tổ chức lại ngành sản xuất gạch xây theo hướng hiện đại, sử dụng hợp lý và hiệu quả nguyên liệu, năng lượng và lao động; bảo vệ môi trường sinh thái, di tích lịch sử, văn hóa, cảnh quan và an ninh, quốc phòng. Kết hợp hài hoà, đồng bộ giữa ngành sản xuất gạch với các ngành giao thông vận tải, cung ứng vật tư kỹ thuật, xây dựng hạ tầng. Khai thác tối đa năng lực của các ngành liên quan như cơ khí, luyện kim, tin học, tự động hóa để nghiên cứu, thiết kế, chế tạo máy, thiết bị và phụ tùng sản xuất gạch thay thế nhập khẩu.
c) Về bố trí quy hoạch
Tiếp tục đầu tư hoàn thiện công nghệ sản xuất đối với các cơ sở sản xuất gạch bằng lò tuynel hiện có. Đồng thời, đầu tư phát triển các cơ sở sản xuất gạch nung bằng lò tuynel quy mô lớn hơn l0 triệu viên/năm, tận dụng đất đồi, đất bãi ven sông để sản xuất.
Phát triển sản xuất gạch bằng lò liên tục kiểu đứng; phấn đấu đến năm 2010 không còn lò gạch thủ công truyền thống ở các địa phương.
Phát triển sản xuất gạch không nung, phấn đấu năm 2010 đạt sản lượng bằng 30% tổng sản lượng gạch xây. Đối với các vùng lũ lụt, vùng có nền đất yếu, nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long, cần đầu tư sản xuất các loại vật liệu nhẹ, các loại tấm tường để thay gạch nung và gạch không nung.
d) Về huy động nguồn vốn đầu tư
Đa dạng hóa các hình thức đầu tư trong nước và ngoài nước, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển sản xuất gạch. Quản lý và thực hiện các dự án đầu tư phù hợp với quy hoạch, lĩnh vực kinh tế và đặc điểm của địa phương.
|