Vai trò của ngành gốm sứ trong nền kinh tế
Ngành gốm sứ Việt Nam có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, tạo việc làm và thu nhập cho số đông lao động ở một số địa phương trên cả nước. Hiện nay sản phẩm gốm sứ gia dụng mới đáp ứng được gần 90% nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Mỗi năm giá trị xuất khẩu của ngành đạt trên 260 triệu USD, chiếm 0,5% giá trị GDP. [Bộ Công nghiệp, 2003]
Các sản phẩm gốm sứ của Việt Nam hiện nay đang bị các sản phẩm gốm sứ Trung Quốc cạnh tranh mạnh. Số doanh nghiệp sản xuất nhỏ, với công nghệ lạc hậu đã giảm đáng kể do không thể cạnh tranh trên thị trường. Các doanh nghiệp lớn có khả năng đầu tư đổi mới công nghệ đang dần khẳng định được vị thế tại thị trường nội địa cũng như xuất khẩu.
Sản lượng sứ gia dụng toàn ngành: [Niên giám Thống kê, 2005].
- Năm 2000: 247,1 triệu cái (doanh nghiệp ngoài quốc doanh sản xuất 227,4 triệu cái);
- Năm 2005: 439,9 triệu cái (doanh nghiệp ngoài quốc doanh sản xuất 346,2 triệu cái).
Các doanh nghiệp sản xuất gốm sứ phân bố chủ yếu ở một số tỉnh miền Bắc và miền Nam. ở miền Bắc tập trung tại các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, thành phố Hà Nội. ở miền Nam tập trung tại các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Long. Các doanh nghiệp gốm sứ chủ yếu là các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, hộ gia đình có quy mô nhỏ, tập trung ở các làng nghề truyền thống. Hiện nay một số doanh nghiệp đang có xu hướng chuyển dịch vào các khu công nghiệp để có thể mở rộng sản xuất.
Mục tiêu
Mục tiêu phát triển ngành gốm sứ 5 năm tới là đạt tốc độ tăng trưởng từ 20 – 25%/năm, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu gốm sứ gia dụng cao cấp, gốm sứ mỹ nghệ và kỹ thuật.
Quan điểm
a) Về công nghệ
áp dụng công nghệ hiện đại làm nòng cốt, chú trọng đầu tư phát triển ngành theo chiều sâu. Đầu tư nghiên cứu, chọn lựa nguyên liệu để nâng cao chất lượng sản phẩm, tiếp cận với công nghệ cao nhằm sản xuất các sản phẩm mới tiết kiệm nguyên liệu và bảo vệ môi trường.
b) Về quy mô sản xuất
Để nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra khả năng cạnh tranh trên thị trường, nhất là sản phẩm xuất khẩu, cần đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất lớn, có công nghệ và trang thiết bị tiên tiến. Đầu tư mở rộng các cơ sở sản xuất hiện có để nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá mặt hàng.
c) Về quy hoạch
· Vùng 1 tập trung phát triển sản xuất gốm sứ kỹ thuật,
· Vùng 2, Vùng 5 phát triển sản xuất gốm sứ gia dụng cao cấp, gốm sứ mỹ nghệ truyền thống, gốm sứ kỹ thuật,
· Vùng 3, Vùng 4, Vùng 6 tập trung phát triển gốm sứ mỹ nghệ.
d) Về đầu tư
Khuyến khích các thành phần kinh tế huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của xã hội để đầu tư phát triển ngành gốm sứ. Tập trung đầu tư phát triển ngành gốm sứ mỹ nghệ có khả năng xuất khẩu và ngành thuỷ tinh cao cấp trở thành sản phẩm mũi nhọn của ngành.
Khuyến khích đầu tư mở rộng sản xuất gốm sứ dân dụng, khôi phục và phát triển làng nghề gốm sứ truyền thống.
|